Phân tích ý nghĩa bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du

  1. Tác giả: LTTK CTV01
    Đánh giá: ✪ ✪ ✪ ✪ ✪

    Thương xót cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc là một nguồn cảm hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du. Ngoài Truyện Kiều – một tác phẩm bất hủ, Nguyễn Du còn không ít những bài thơ chữ Hán đặc sắc viết về thể tài này. Một trong số đó phải kể đến bài thơ Độc Tiểu Thanh kí. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du.

    1. Tác giả Nguyễn Du.

    – Nguyễn Du (1765 – 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hóa thế giới.
    – Sự nghiệp sáng tác: gồm thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm.
    – Nội dung trong thơ văn đặc biệt là chữ hán: sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người nhỏ bé, bất hạnh, đặc biệt là số phận bất hạnh của những người phụ nữ có tài hoa, nhan sắc.
    Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong thơ văn Nguyễn Du .

    2. Chuyện nàng Phùng Tiểu Thanh (1594 – 1612).

    Tiểu Thanh – Phùng Tiểu Thanh (1594- 1612), người Quảng Lăng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, thông minh, tài, sắc vẹn toàn. Năm 16 tuổi cô làm vợ lẻ một nhà quyền quý họ Phùng (Phùng Sinh). Bị vợ cả ghen ghét, cô phải tránh ra ở Cô Sơn (trên núi cao), cạnh Tây Hồ. Vì đau buồn cô sinh bệnh rồi chết năm 18 tuổi.

    Những uất ức và đau khổ được cô gửi gắm vào thơ nhưng rồi cũng bị vợ cả đốt, may mắn thay, một số bài thơ còn sót lại, do nàng viết trên hai tờ giấy gói tặng mấy vật trang sức cho một cô gái (phần dư). Đọc phần dư cảo, Nguyễn Du trào lên nỗi xót thương, đồng cảm với thân phận của người phụ nữ nhan sắc vẹn toàn nên viết bài thơ này.

    Từ hiểu biết về Truyện Kiều, hãy làm rõ ý kiến: “Máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột”

    3. Bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí”.
    a. Hoàn cảnh sáng tác:


    Chưa rõ tác giả sáng tác trong hoàn cảnh cụ thể nào. Chỉ biết sau khi đọc xong phần dư (những bài thơ còn sót lại hay khi đọc tập truyện kí ghi chép về cuộc đời nàng Tiểu Thanh) rồi sáng tác bài thơ này

    b. Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật.

    c. Bố cục:

    – 2 câu đề: Nỗi lòng của nhà thơ trước lẽ biến thiên dâu bể của cuộc đời.
    – 2 câu thực: Nỗi xót xa cho kiếp người tài hoa bạc mệnh
    – 2 câu luận: Niềm cảm thông đối với những kiếp người hồng nhan, tài hoa mệnh bạc
    – 2 câu kết:Tiếng lòng khao khát tri âm.

    d. Nội dung:

    – Hai câu đề: Tiếng thở dài của tác giả trước lẽ “biến thiên dâu bể” của cuộc đời và niềm thổn thức của một tấm lòng nhân đạo lớn: vạn vật đổi thay, Tiểu Thanh bị vùi lấp trong quên lãng nhưng nhà thơ đã nhớ và viếng nàng qua “ nhất chỉ thư”.

    – Hai câu thực: Nỗi xót xa cho một kiếp tài hoa bạc mệnh; gợi nhớ lại cuộc đời, số phận bi thương của Tiểu Thanh: tài hoa, nhan sắc hơn người nên bị đố kị, phải làm lẽ và bị đày ải đến chết vẫn không được buông tha.

    – Hai câu luận: Niềm cảm thông đối với những kiếp hồng nhan, những người tài hoa bạc mệnh. Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du khái quát về quy luật nghiệt ngã “ tài mệnh tương đố”, “hồng nhan bạc phận” và tự nhận thấy mình cũng là kẻ cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh, là nạn nhân của nỗi oan khiên lạ lùng, bộc lộ mối đồng cảm sâu xa.

    – Hai câu kết: Tiếng lòng khao khát tri âm. Khóc Tiểu Thanh, Nguyễn Du “ trông người lại nghĩ đến ta” và hướng về hậu thế tỏ bày nỗi khao khát tri âm của mọi kiếp người tài hoa mà phải chịu đau khổ trên đời.

    e. Nghệ thuật:


    – Sử dụng tài tình phép đối và khả năng thống nhất những mặt đối lập trong hình ảnh, ngôn từ.
    – Ngôn ngữ trữ tình đậm chất triết lí

    f.Ý nghĩa văn bản:

    Niềm cảm thương mà Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh và tâm sự khao khát tri âm hướng về hậu thế; vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du.

    Phân tích bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí”:

    a. Hai câu đề:


    “Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang,
    Thổn thức bên song mảnh giấy tàn”.

    Cảm xúc đến sau khi đọc tập kí về Tiểu Thanh bên song cửa sổ: “Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang”. Tác giả tưởng tượng khu vườn bên Tây Hồ, nơi nang Tiểu Thanh từng ở, xưa huy hoàng rực rỡ. Nay hoang phế, điêu tàn.. Người đẹp tài sắc Tiểu Thanh nay không còn nữa. Từ “tẫn” chỉ đứt đoạn, hết → một sự thay đổi triệt để của cảnh vật.

    => Nguyễn Du thương tiếc cho số phận của Tiểu Thanh, buồn cho sự đổi dời của vạn vật trước thời gian

    Tác giả sử dụng từ ngữ mang tính biểu trưng:

    + Tây Hồ hoa uyển → cảnh đẹp → người đẹp.
    + Tẫn thành khư → thành bãi hoang → đã chết.

    → Nghệ thuật đối lập, tượng trưng → mượn sự thay đổi của cảnh vật để nói về sự thay đổi cuộc đời nàng Tiểu Thanh. Đây cũng chính là sự biến thiên dâu bể – một sự thay đổi lớn trong cuộc đời nàng.

    ⇒ Câu thơ là tâm trạng buồn ,tiếc nuối, cảm thương mà bất lực. Đó là tiếng thở dài buồn bã của Nguyễn Du về sự đổi thay của cuộc đời và tiếng thổn thức của một tấm lòng nhân đạo trước số phận bất hạnh của một cô gái bên xứ người

    Tâm trạng của nhà thơ:

    + “Độc điếu” : viếng một mình
    + “nhất chỉ thư”: một tập sách

    → Viếng một mình, bằng cách đọc tập sách còn sót lại. Đó là thái độ trân trọng, thành kính đối với người đã khuất.

    ⇒ Nhà thơ thổn thức, không yên ổn trước vẻ đẹp lý tưởng của một con người tài hoa. Thương cảm, xót xa cho cuộc đời và số phận của nàng Tiểu Thanh. Hai câu thơ như một tiếng thở dài trước lẽ “biến thiên dâu bể” của cuộc đời và niềm thổn thức của một tấm lòng nhân đạo lớn.

    b. Hai câu thực:


    “Son phấn có thần chôn vẫn hận,
    Văn chương không mệnh đốt còn vương”.

    – “Son phấn”: hình ảnh ẩn dụ về sắc đẹp→ bị chôn vùi
    – “Phần dư“: những bài thơ còn sót lại- hình ảnh ẩn dụ về tài năng → bị đốt cháy.

    Tài sắc vẹn toàn nhưng Tiểu Thanh phải chịu nhiều bất hạnh, ngang trái. Tác giả xót thương cho số phận của nàng, phẫn nộ trước quy luật nghiệt ngã, oan trái, bạc bẽo của kiếp người “tài hoa bạc mệnh”.

    ⇒ Tấm lòng tri âm, thương cảm sâu sắc của Nguyễn Du trước cuộc đời, số phận oan trái của người sắc tài kì nữ khiến trời đất ghen. Nỗi xót xa cho một kiếp tài hoa bạc mệnh; xót xa cho tài năng, cho những giá trị tinh thần bị hủy hoại. Qua đó nhà thơ tố cáo xã hội phong kiến đã vùi dập con người có tài sắc.

    Nguyễn Du ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của Tiểu Thanh như ca ngợi vẻ đẹp hoàn thiện, hoàn mĩ. Đặt trong hoàn cảnh xã hội cũ, người phụ nữ bị khinh miệt mà ông vẫn ca ngợi đó chính là bản lĩnh và cái nhìn tiến bộ của Nguyễn Du. Số phận của nàng Tiểu Thanh cùng với tập thơ của nàng còn ẩn chứa nỗi đau tận cùng của Nguyễn Du về số phận của “hồng nhan” về cái tài, cái đẹp bị giày xéo, bị chôn vùi trong bể khổ của cuộc đời.

    c. Hai câu luận:

    “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
    Cái án phong lưu khách tự mang”.

    – “Cổ kim hận sự”: mối hận của người xưa và người nay:

    + Người xưa: nàng Tiểu Thanh và những người phụ nữ cùng cảnh ngộ.
    + Người nay: những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố cùng thời với Nguyễn Du và thế hệ những nhà thơ tài năng nhưng gặp nhiều khổ đau, bất hạnh trong cuộc đời như Nguyễn Du.

    – “thiên nan vấn”: khó mà hỏi trời được, khó mà tìm được một lời giải đáp.

    ⇒ Số phận đau thương của những kiếp người tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến trở thành mối hận, thành câu hỏi không có lời giải đáp. Từ số phận của Tiểu Thanh, nhà thơ khái quát hiện thực: Sự bất công với người tài sắc trở thành một định lệ.

    -“Phong vận kì oan”: nỗi oan trái của người phong lưu, tài tình.
    – “ngã tự cư”: ta tự mang.

    ⇒ Nhà thơ tự coi mình cùng hội cùng thuyền với những người phong lưu tài tử. Đồng cảm sâu sắc với những kiếp tài hoa, khóc cho người và cũng là khóc cho mình. Ngẫm về phận mình lênh đênh, chìm nổi mà thấy mình giống như Tiểu thanh. Vì thế mà tự nhận mình là người cùng hội cùng thuyền đều mắc nỗi oan khiên lạ lùng. Đó là tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du, viết về người cũng là viết về mình. Câu thơ thật da diết và cảm động.

    Tiểu Thanh hận chồng, hận người vợ cả phủ phàng khiến nàng phải chết trong buồn khổ,hận xã hội phong kiến không biết trân trọng người tài sắc.

    Câu thơ là sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn du xuất phát từ nỗi thương mình, thương người, từ lòng nhân ái cội rễ của dân tộc. Đồng thời cũng cho thấy sự bế tắc, đau khổ của Nguyễn Du trước cuộc đời. Qua dó tố cáo xã hội chà đạp lên thân phận người phụ nữ; lên án xã hội phong kiến bất công với người có tài

    – Liên hệ:

    “Một câu hỏi lớn không lời đáp
    Cho đến bây giờ mật vẫn chau”

    (Các vị la hán chùa Tây Phương của Huy Cận)

    Đây không phải là nỗi băn khoăn và bất lực của riêng Nguyễn Du mà của chung của cả thời đại ông. Đến đây, câu chuyện có phải dừng lại ở số phận của những người phụ nữ tài, sắc nữa mà là của cả thế hệ, của cả nhân gian. Những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh tương đố cùng thời với Nguyễn Du và thế hệ những nhà thơ tài năng nhưng gặp nhiều khổ đau, bất hạnh trong cuộc đời như Nguyễn Du.Nguyễn Du tự coi mình cũng giống như nàng Tiểu Thanh kia, cũng tài hoa mà bạc mệnh.đặt trong hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ, cách nói của ông mang tính nhân văn sâu sắc: Ông coi Tiểu Thanh ngang tầm với mình cùng bạc mệnh, cùng số phận đau thương.

    Nguyễn Du đã thấy tất cả những người tài hoa trong xã hội phong kiến đều có chung số phận gian truân, nghiệt ngã “Tài mệnh tương đố”, “Tài hoa bạc mệnh”. Từ cảm thông cho Tiểu Thanh, tác giả khái quát lên thành niềm thương cảm cho số phận của nhiều kiếp người “Sắc tài sao lắm truân chuyên”

    Hai câu thơ là sự cảm thông cao độ của tác giả dành cho Tiểu Thanh, coi chuyện oan khuất của Tiểu Thanh là của mình: trót sinh ra, trót mang lấy nghiệp vào thân, trót có tài, trót có sắc thì đành phải chịu để đời đánh ghen, đùa cợt, khốn khổ. Hai câu thơ đều là 2 câu hỏi không lời đáp, là bi kịch không thể giải thoát, là nỗi day dứt triền miên trước quy luật tai quái của xã hội cũ: tài hoa- bạc mệnh.

    Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng trăn trở về chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau, chữ tài liền với chữ tai một vần, thì ở đây Nguyễn Du đã đẩy lên mức độ cao hơn, làm cho hai câu thơ giống như một tiếng thét. Xã hội phong kiến thối nát thù hận, đối nghịch với tài năng phẩm giá của con người. Xã hội ấy nhất định phải bị tiêu diệt.

    d. Hai câu kết :

    “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
    Người đời ai khóc Tố Như chăng?”

    – Con số “ba trăm năm lẻ”: thời gian lâu dài về sau (không cụ thể)

    – “Người đời …………chăng?”: câu hỏi tu từ đầy day dứt, trăn trở: buồn thống thiết như cứa vào lòng → cô đơn, cô độc trong hiện tại: niềm khao khát tri âm: từ thương người đến thương mình

    Khóc Tiểu Thanh, Nguyễn Du “trông người lại nghĩ đến ta” và hướng về hậu thế tỏ bày nỗi khao khát tri âm của mọi kiếp người tài hoa mà phải chịu đau khổ trên đời.(Nói cách khác: niềm tự thương, tự đau đến cực độ: thương mình cô độc không ai tri ân, tri kỉ trong cuộc đời này→ nỗi đau đời của Nguyễn Du).

    Từ quy luật nghiệt ngã của cuộc đời , nhà thơ nghĩ đến cuộc đời mình: khóc cho chính mình. Con số 300 năm lẻ ở đây có ý nghĩa sâu sắc. Nguyễn Du khóc cho Tiểu Thanh cách hơn 300 năm sau, có lẽ có sự liên tưởng đến mình. Tiểu Thanh mất, sau 300 năm có Nguyễn Du khóc thương, an ủi → niềm hạnh phúc cho Tiểu Thanh. Còn khi Nguyễn Du mất không biết có ai đồng cảm, khóc cho ông không? Câu thơ là nỗi dằn vặt, cô đơn mòn mỏi, không tin là mình sớm tìm được sự thông cảm, chia sẻ.

    Chuyện 300 năm trước đã thành chuyện của Nguyễn Du, chuyện trước mắt. Điều đặc biệt, cảm hứng nhân văn của bài thơ còn ở chỗ : không chỉ đề cao vẻ đẹp của con người, của người phụ nữ nói riêng; Nguyễn Du còn thể hiện sự trân trọng giá trị tinh thần to lớn của con người và hơn thế : trong quan niệm vô ngã phi ngã của văn chương trung đại, bài thơ là một hiện tượng hiếm hoi khi đã kết hợp giữa thương người và thương mình vào một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật ngắn ngủi vượt ra ngoài quy luật chung của xã hội phong kiến.

    Với ngôn ngữ giàu triết lí, hàm súc, tinh tế, sử dụng tài tình phép đối và khả năng thống nhất những mặt đối lập trong hình ảnh, ngôn từ, sự phá cách khuôn mẫu của thơ Đường luật, bài thơ biểu lộ sâu sắc niềm cảm thương mà Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh và tâm sự khao khát tri âm về hậu thế ; vẻ dẹp chủ nghĩa nhân đạo nguyễn Du.
    • Kết luận:
    Độc Tiểu Thanh kí là một bài thơ tuân thủ chặt chẽ luật Đường thi nhưng vẫn lộ ra tài năng độc đáo của Nguyễn Du bởi bút pháp trữ tình hàm súc, thâm thuý; mỗi câu thơ như chứa đựng cả một thế giới cảm xúc của một nghệ sĩ lớn. Bài thơ từ tiếng khóc cho số phận Tiểu Thanh, cũng là tiếng khóc cho số phận con người tài hoa bạc mệnh, cho cái Đẹp bị vùi dập và đặc biệt nó còn là tiếng khóc, là nỗi khát thèm tri âm tri kỉ của chính Nguyễn Du.

    Bài thơ thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua đó cũng nói lên một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà đạp. Hình ảnh thơ mang ý biểu trưng sâu sắc. Ngôn ngữ trữ tình đậm chất triết lí